Danh ngôn
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Video giới thiệu sách
Bông Sen Vàng

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Hường
Ngày gửi: 14h:31' 12-02-2025
Dung lượng: 741.4 KB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Trần Thị Hường
Ngày gửi: 14h:31' 12-02-2025
Dung lượng: 741.4 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Bông Sen Vàng
Sơn Tùng
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Table of Contents
Mục lục
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
TỪNG GIỌT NƯỚC NHỎ THẤM VÀO LÒNG ĐẤT CHẢY VỀ MỘT HƯỚNG MỚI THÀNH
SUỐI THÀNH SÔNG. BIẾT BAO NHIÊU GIỌT NƯỚC NHỎ HỌP LẠI MỚI THÀNH BIỂN CẢ.
MỘT PHO TƯỢNG HAY MỘT LÂU ĐÀI CŨNG PHẢI CÓ CÁI NỀN ĐẤT VỮNG CHẮC MỚI
ĐỨNG VỮNG ĐƯỢC.
NHƯNG NGƯỜI TA DỄ NHÌN THẤY PHO TƯỢNG VÀ LÂU ĐÀI MÀ KHÔNG CHÚ Ý ĐẾN
CÁI NỀN. NHƯ THẾ LÀ CHỈ THẤY CÁI NGỌN MÀ QUÊN MẤT CÁI GỐC.
HỒ CHÍ MINH
(Tuyển tập, Tâp II, trang 480)
1.
Đã qua giờ Mão sang Thìn. Mặt trời len lỏi mới ra khỏi những vầng mây vảy rồng. Từ góc trời
đông, mộ tia năng vàng xuyên qua tán cây chè vối đậu vào thau nước để trên sân ngời lên ánh sắc lung
linh chiếu vào tốp học trò nhỏ của thầy Nguyễn Sinh Sắc đang giờ viết tập.
Côn tô nét chữ cuối cùng, đặt bút xuống, ngồi thẳng người, ngực hơi nâng lên phía trước, đầu
nghiêng nghiêng ngắm những hàng chữ viết tập mà cha cho mẫu trước lúc vào Quốc Tử Giám dự bình
văn. Côn gật gật đầu, tự tin bài viết tập của mình sẽ được nhiều dấu khuyên của cha. Và hình ảnh cha
ẩn hiện trong đầu, văng vẳng bên tai tiếng cha dặn học trò lúc đi:
- Dù thầy vắng mặt, các trò vẫn luôn luôn như thầy hiện diện thì mới là người học trò: Đức ngôn
thịnh lễ ngôn trung (đức nhiều lễ kính).
Một con mèo cái có dáng và bộ lông báo, bốn chân đi bít tất trắng từ trên bàn thờ nhảy xuống phản,
đi rón rén đến bên Côn, cất tiếng gọi: me..o m..eo... Côn xoay người đón bế con mèo, vuốt ve nó. Con
mèo nũng nịu dúi dúi cái đầu lông mượt như nhung vào lòng Côn và hai mắt lim dim như vòi được ru
để ngủ. Mấy bạn ngồi gần Côn đang chăm chú viết, dừng bút nhìn trìu mến con mèo ngoan ngoãn trong
vòng tay ôm ấp của Côn. Nhìn âu yếm nhất, trìu mến nhất là hai cặp mắt trong sáng Công Tôn Nữ Huệ
Minh và Lê Thị Hạnh ngồi bàn riêng ở gần cửa đi vào buồng Hoàng Thị Loan, thường gọi là bà cử Sắc
hay thím cử Sắc.
Nguyễn Sinh Khiêm, mặt thoáng một nét nghiêm, nhắc Côn:
- Côn! em viết xong rồi còn phải giữ yên tĩnh để các bạn khác viết chứ. Em quên lời cha dạy lúc
sáng à?
Côn dí ngón tay trỏ vào con mèo
- Tại con mèo cưng ni, anh ạ.
- Em không nhận lỗi, mà còn đổ cho mèo?
- Em vẫn ngồi yên xem lại bài thì bé mèo đến quấy rầy em đó.
- Em phát cho nó mấy cái đuổi nó đi, lúc khác hãy...
Diệp Văn Kỳ vỗ vỗ vào đầu con mèo, nói nhỏ:
- Phát nhè nhẹ ri, dọa nó thôi. Nó ngoan lắm!
Tôn Thất Tuấn, trạc tuổi với Khiêm, ngồi gần Kỳ, sải tay sang phát mạnh vào lưng con mèo. Bị đánh
bất ngờ, con mèo nhảy vọt ra khỏi lòng Côn, chạy vào buồng, đứng trên khung cửi dệt nhìn ra lớp học,
kêu me...o me...o... Côn nhìn theo con mèo, hai mắt chớp chớp vẻ xót xa. Kỳ chau mày định đấm trả
Tuấn một cái lỗi đánh mèo vô cớ. Nhưng Côn đã kéo tay Kỳ lại, giọng Côn hơi dỗi:
- Cậu Tuấn đánh mèo đang ngủ trong tay tôi thì có khác chi người "đánh chó không ngó chúa", đó
nha.
Tuấn cười hề hề như chẳng có can cớ gì đến mình cả. Bốn anh học trò lớp chuẩn bị thi Hương, ngồi
bên cửa sổ phía hồi nhà đều quay lại, một anh nói:
- Cậu Tuấn xin lỗi cậu Côn đi.
- Tôi... tôi xin lôi cậu Côn nghe. Côn cười tươi, nói:
- Cậu Tuấn đánh mèo thì xin lỗi mèo mới phải chớ.
Cả lớp học cười vui vẻ. Kỳ chạy vào buồng định bắt con mèo ra cho Tuấn xin lỗi, nhưng con mèo
đã nhảy tót lên xà nhà.
Hồ Quang, người học trò nghèo, vẫn cặm cụi viết.
Cả lớp đã viết xong bài tập. Mỗi người đặt nghiên mực của mình vào bàn độc thành hàng ngay ngắn,
cho bút vào ống, đậy nắp chặt để mang theo về với sách học. Đám học trò nhỏ chạy ra ríu rít trên sân.
Bốn người học trò lớn xếp bốn bài tập thành chồng trên án thư của thầy. Bước ra khỏi cửa, bốn người
giương bốn ô lên, chân đất, quần trắng, áo dài lương, khăn nhiễu, tóc búi đụm, dáng đi đường bệ nho
sinh, cử tử.
Huệ Minh và Hạnh bị cảm, cố gắng đi học nhưng không dám về dưới nắng trưa, hai cô ngồi đợi gia
nhân đưa xe đến đón. Hai cô giở đồ thêu ra và ngồi thêu tại bàn học.
Thấy trời nắng to, Khiêm bê củi trong bếp ra sân phơi. Huệ Minh, Hạnh chạy vào bê giúp, nhưng
Khiêm ngăn lại:
- Đừng... xin mệ và cô đừng... cảm ơn. Mệ và cô đang còn ốm mà. Ngay lúc đó Hồ Quang, Kỳ, Côn
- từ ngoài vườn đang đuổi bắt chuồn chuồn - đã chạy vào bê củi ra sân... với Khiêm. Côn trách anh:
- Chẳng gọi em, anh bê củi một mình!
- Có nhiều nhặn chi, một mình anh làm cũng được.
- Mỗi người mần một chút vừa vui, vừa lẹ việc chớ!- Cậu Quang trải mớ củi ra giữa sân, nói.
- Cậu Khiêm còn khách khí với tụi tui nghe!- Kỳ nói vui khi xong việc.
Khiêm thanh minh:
- Đâu có rứa. Cậu Kỳ nghĩ "oan" cho tôi rồi. Tuấn đi ra ngõ đứng nói chuyện với một nho sinh, học
lớp ôn thi Hương.
Không kể gì nắng găt, Côn và Kỳ lại lúi húi theo bắt hai con chuồn chuồn bên dọc hàng dâm bụt.
Côn nhón chân, cúi sát bên bụi cây đi lò dò, tay sải ra đằng trước chìa hai ngón tay bắt được con
chuồn chuồn sứ.
Kỳ không cúi được thấp, bước nặng chân, con chuồn chuồn thấy động bay lên lại sà xuống đậu. Côn
nhắc khẽ Kỳ:
- Cúi thấp nữa... thấp xuống nữa... nhón bàn chân lên, đi bằng ngón chân thôi...
Đi được vài bước, không chịu được mỏi, Kỳ thẳng người lên. Con chuồn chuồn vội bay vụt lên sang
bên kia vườn. Hai cặp mắt ngây thơ nhìn theo con chuồn chuồn lấp lánh ánh biếc dưới nắng trưa mênh
mang.
Kỳ thở dài:
- Tiếc quá. Con chuồn chuồn voi đẹp chưa từng thấy.
- Tại cậu, bắt chuồn chuồn mà đi ào ào như đuổi chuột, bắt sao được?
- Cậu Côn dẻo người. Cúi xuống lâu mấy cũng được, đi nhẹ như mèo. Có lẽ cậu cầm tinh con mèo.
Côn cười, hai ngón tay cầm đuôi con chuồn chuồn bàn tay kia chìa ra cho nó đậu lên. Con chuồn
chuồn vẫy vẫy cánh, sắc biếc ánh lên lấp lánh.
- Đẹp tuyệt - Kỳ tấm tắc khen.
- Mắt nó giống như mắt con phụng khảm xà cừ ở cánh tủ nhà cậu Tuấn hề.
- Đúng rồi - Kỳ tán thưởng nhận xét của Côn - hai cái cánh nó rất giống đai mũ của các quan trong
triều thường đội, các cậu nhể.
- Vì rứa mới gọi là mũ cánh chuồn... hề... hề...
Kỳ cười khoái trá. Côn gật gật đầu cùng cười vui. Kỳ còn nhận xét thêm:
- Cái đuôi nó giống cái xiên nhuộm phẩm để vua xiên mứt, kẹo...
Côn vẻ ngạc nhiên:
- Vua mà cũng ăn kẹo, ăn mứt như trẻ con chúng mình à?
Kỳ hơi sững lại, nhắc khẽ Côn:
- Nói "vua ăn" sẽ bị quở đó, cậu Côn ạ.
- Không được gọi "ăn" thì gọi là "vua chén" à?
- Ấy... ấy đừng nói rứa – Kỳ hơi cuống - Các quan thị vệ và bọn lính hộ thành nghe được thì nguy
to...
- Không gọi "ăn", không gọi "chén" thì gọi bằng tiếng chi?
- Phải nói là "vua ngự thiện".
- Ngồi ăn mà lại... gọi là ngự... thiện? Tối nghĩa lắm - Côn đay giọng.
- Vua khác người thường mà cậu - Kỳ bào chữa.
Hai cậu học trò mải mê ngắm ánh sắc con chuồn chuồn và bàn cãi về việc gọi "vua ăn", "vua ngồi"
không để ý kỹ, giờ Côn mới nhận ra cánh con chuồn chuồn bị rách.
- Thả ra coi nó còn bay được nữa không? - Kỳ nói.
Côn xòe rộng bàn tay, con chuồn chuồn đậu trong ban tay Côn vây vây cánh, đuôi nhúc nha nhúc
nhích. Nó nhấc mình bay lên là là rồi đậu xuống một cành cây thấp phía xa, Côn, Kỳ chay theo con
chuồn chuồn. Côn đưa tay ra... nhưng con chuồn chuồn đã bay lên một cành cây cao hơn. Côn phải né
nghiêng tránh bóng mình khỏi vương vào mắt con chuồn chuồn rồi nín thở vươn tay ra túm lấy đuôi,
chú chuồn chuồn rướn bay lên không nổi nữa đành phải uốn cong bám chặt lấy tay Côn, cánh vẫy vẫy...
Côn cười vui với bạn:
- Nó bay còn khỏe lắm. Để lát nữa tôi đưa cho bé Xển. Tội nghiệp, bị bại liệt, bé chỉ xển quanh
trong nhà!
- Ừ. Phải rồi - Kỳ hồ hởi nói - được con chuồn chuồn ni, bé Xển sẽ vui gấp mấy lần...
Côn nhìn xuống sân xem bóng nắng:
- Sắp hết giờ Tỵ. Chúng mình đến bé Xển trở về vẫn còn kịp giờ gia nhân đến đón cậu.
- Được thôi. Đi nào!
- Khoan, anh Kỳ vô xin mệ Huệ Minh, hay cô Hạnh sợi chỉ màu cột đuôi nó thì bé Xển mới giữ
được nó chứ.
- Ừ. Cậu Côn sáng ý đó - Kỳ nói.
Giữa lúc hai cái đầu chụm lại, cột đuôi con chuồn chuồn sứ thì Tuấn từ ngoài ngõ vào, xòe tay chộp
lấy. Vì quá mạnh tay, con chuồn chuồn bị đứt đuôi, rách nhàu hai cánh.
Côn thõng hai tay xuống nhìn Tuấn:
- Anh... Tuấn... - Côn không gọi tiếng cậu một cách bình thường nữa.
Kỳ tím mặt lại.
Thấy không ai nói một lời nào khác, Tuấn biết lỗi, đứng ngây người nhìn các bạn, lúng túng:
- Con chuồn chuồn chứ mô phải báu vật chi mà các cậu tiếc hung dữ rứa?
- Từ giờ bọn tôi nỏ chơi với cậu Tuấn nữa. Côn nói dằn từng lời. Kỳ thì gay gắt hơn:
- Tôi sẽ thưa thầy và thưa với hai bác ở nhà. Anh Tuấn đừng trách tôi đó.
Tiếng nhạc ngựa ngoài xa nghe rõ dần. Huệ Minh và Hạnh ở trong lớp chạy ra:
Để gỡ bí cho bạn, Quang gọi:
- Các bác ơi, đánh xe vô đây. Tuấn ngăn lại:
- Ấy chết! phải giữ lễ chứ anh Quang. Học trò không được đưa xe, đưa cáng vô tận ngõ thầy học của
mình. Nói xong Tuấn lảng đi. Huệ Minh, Hạnh, Kỳ, ríu rít chào đi ra xe. Nhưng không thấy Tuấn đâu
cả. Kỳ chạy vào nhà chỉ có Khiêm và Quang trong đó. Kỳ lại chạy trở ra xe. Hai cô đã lên xe song mã
đỗ ở trước lối đi ra đường Đông Ba. Kỳ còn chạy kiếm một vài nơi quanh mà vẫn không thấy Tuấn. Kỳ
đành lên xe về một mình. Hai chiếc xe từ từ lăn bánh theo nhịp đi của ngựa. Những con mắt trẻ thơ
trên hai cỗ xe ngựa ngoái lại nhìn Côn lưu luyến!
Côn đi trở vào tay vẫn còn cầm con chuồn chuồn sứ cụt đuôi. Nhìn nó một lúc nữa rồi Côn để nó
đậu lên một cành cây râm mát, khuất vào phía trong vườn. Thấy Tuấn từ ngoài đường cái chạy vào,
mướt mồ hôi, Côn đon đả hỏi:
- Cậu Kỳ đi tìm khắp, chẳng thấy cậu đâu. Cả hai xe về mất rồi.
Tuấn hơi ngượng ngập:
- Gặp xe tiện thì đi, không thì tôi đi bộ vui chân hơn, cậu ạ. Tuấn đứng sát bên Côn, giọng thầm thì:
- Cậu đừng giận tôi nghe. Tôi biết sai rồi. Cậu cũng đừng thưa với thầy...
Côn tươi cười:
- Giận dỗi nhau tí chút, xong thôi. Ai lại thưa thầy viêc vặt ấy.
Tuấn làm lành thật tình. Tuần cầm cái gói bọc giấy vẻ ngường ngượng, nài nỉ:
- Cậu cầm dùm... của nhà làm, ngon lắm.
- Cái gói chi? Tôi chẳng cầm đâu.
- Kẹo đó mà. O tôi ở đằng Anh Danh chuyên làm bánh kẹo cho trong Nội.
- Không, cảm ơn cậu. Tôi không dám nhận đâu.
- Cậu Côn vẫn chưa thứ cho tôi à?
- Ấy! cậu còn nghĩ tôi hẹp bụng vậy à?
- Răng nỏ nhận kẹo? Đây. Tôi có hai gói. O tôi cho tôi một gói, một gói gởi biếu cậu và cậu Khiêm
mà.
- Tôi hiểu lòng thảo cua cậu lắm. Nhưng từ trước tới giờ mẹ tôi không cho anh em tôi nhận bất cứ
món quà nào dầu nhiều dầu ít của ai khi chưa được cha mẹ cho phép.
- Đây chỉ là gói kẹo, mô phải quà cáp chi, cậu? Côn nể bạn, nói:
- Cậu mở ra coi đã.
Tuấn mở gói, những chiếc kẹo nhuộm ngũ sắc rất đẹp mắt.
Côn nhón tay cầm hai chiếc:
- Để cậu khỏi áy náy trong lòng, tôi xin hai cái, tôi một cái, phần anh Khiêm một cái - Côn pha trò
thêm - Rứa là ... là vui vẻ cả nghe!
Tuấn nài Côn cầm thêm kẹo nữa. Côn xua tay, lắc đầu chạy vào nhà.
Khiêm từ trong bếp bước ra, tay cầm cái chổi đót, trách yêu em:
- Côn giỏi ghê hề. Mẹ đi chợ, mẹ dặn anh, dặn em ở nhà làm chi, em nhớ không?
- Mẹ dặn học xong anh chẻ củi, nấu cơm, em quét nhà, quét sân rồi đi khiêng nước giếng thơi về đổ
đầy vại.
- Những việc ấy chưa làm xong em đã bỏ đi chơi?
- Em chưa làm, giờ em làm, mà anh!
Côn chạy đến với anh trai, đưa cho anh chiếc kẹo.
- Kẹo ai cho?
- Cậu Tuấn đó, anh ạ. Cậu ấy biếu cả gói em không dám nhận, em chỉ nhận đủ phần anh một cái, em
một cái, để cậu ấy vui lòng.
- Em biết xử sự rồi đó.
- Em đã biết "xử thế", nói theo lời cha thường dặn, chớ anh! Hai anh em cười vui vẻ. Bỗng nghe
tiếng chẻ củi đằng sau nhà bếp, Côn chưa kịp hỏi anh thì Khiêm nói:
- Quang đang chẻ hộ anh em mình.
- Anh và em chia nhau một cái, còn cái kẹo này đưa phần Quang, anh ạ.
Côn cầm chiếc kẹo chạy ra sau nhà đưa cho Hồ Quang, người học trò mà cha mẹ không có đất cắm
dùi, sống lênh đênh trong chiếc thuyền te trên các dòng sông.
*
Mặt trời chênh chếch hàng cây bên mái hiên tây. Gió hiu hiu thổi. Hương sen thoang thoảng mơ hồ!
Côn ra cửa Đông Ba đón mẹ chợ về. Côn ngạc nhiên gần như ngơ ngác nhìn những mâm cỗ đặt cúng
dọc hai bên đường; ở các ngã tư, ngã ba đường cỗ cúng lại càng nhiều. Rất nhiều mâm bỏng, nồi cháo
hoa, đĩa muối, đĩa gạo, có cả vàng giấy, vàng vó la liệt... Ai đi qua mâm cỗ cũng ghé nón, cúi đầu
tưởng vọng. Thỉnh thoảng có cán, xe ngựa, xe song loan của các ông hoàng, bà chúa, các quan Nam,
quan Tây đều phải xuống đi chân qua nơi đang nghi ngút khói hương.
Dưới các bóng cây hai bên đường, những tốp người quần áo rách mướp, gầy gò, lem luốc đứng lố
nhố, tay cầm rá rách, nồi đất, mắt chau háu nhìn vào cỗ cúng chờ đợi hương tàn để được cướp cỗ!...
Côn chưa gặp được một người quen nào để hỏi về cái tích gì mà có lệ cúng này. Từ ngày theo cha mẹ
vào kinh đô ở, hơn mười tháng, Côn chưa hề gặp cảnh cúng đường cúng sá lần nào. Côn tha thẩn ngoài
cửa Đông Ba. Không biết đích xác mẹ đi chợ nào. Côn chỉ nghe mẹ nói với cha: "Hôm nay ngày lẻ,
quanh đây không có chợ phiên chính, phiên xép ít người bán sợi. Tôi phải đi chợ xa mua sợi, mấy
ngày nghỉ dệt rồi...". Mắt Côn luôn luôn hướng về phía cầu Gia Hội. Chưa thấy mẹ về nhưng Côn
mừng reo lên khi nhìn thấy anh phó Tràng, một người hàng xóm sống độc thân tốt bụng:
- Ồ chú! Ồ chú! chú đã về!
- Cậu Côn! Cậu đi mô rứa?
- Cháu đi đón mẹ cháu, bữa ni chú về sớm! không có việc hả chú?
Anh phó Tràng kéo Côn sát vào người mình, dằn từng tiếng nặng chịch:
-"Mồng năm, mười bốn, hăm ba.- Đi chơi còn thiệt nữa là đi buôn". Câu đã nghe ai nói về ba cái
ngày phai kiêng trong một tháng ấy không?
- Thưa, cháu chưa nghe ai nói chú ạ.
- Các cụ truyền khẩu về tục lệ kiêng cữ, cậu ấm ạ. Có ông Trời không? Có Phật không? Có Chúa
không? Có Thánh không? Có Thần không?... Chưa biết, nhưng cứ... cứ hay tin cái đã, cậu ạ. Phải tin có
sự trừng phạt thiêng liêng thì con người càng thêm điều thiện, giảm điều ác, cậu ạ. Bữa ni là ngày hai
mươi ba tháng năm, tui đi mần thuê, nỏ có ai thuê. Đi không lại về không. Đó, cậu coi, tay thợ của tui
mà bữa ni đi mần thuê nỏ đắt!.
- Chú ơi, cháu thưa với chú một việc nhé.
- Ơ... ờ. Cậu cứ việc bảo ban tui, nỏ phải thưa gửi mần chi với anh phó mộc ni, cậu ơi!
- Cháu nói thật tình mà. Cháu xin chú đừng gọi cháu bằng cậu, xưng tôi với cháu. Chú gọi bằng cháu
xưng chú với cháu, với anh Khiêm của cháu nữa.
- Tr...ờ...i...đất...ơi. Cậu còn bé thơ, con một ông cử nhân, một ông thầy học nổi tiếng mà cậu đối xử,
ăn ở bình dân với mọi người hàng xóm, láng giềng.
Anh phó Tràng ngập ngừng giây lát:
- Cậu có lòng đại nhân quân tử với tui, sướng cái bụng tui lắm. Tui sông cô đơn, thèm người hiền.
Tui thèm người hiền, chứ ngợm thì có thiếu chi ở cái đời ni. Nhưng, để tui xin phép ông cử, bà cử cho
danh chính ngôn thuận thì cách xưng chú cháu với nhau mới đặng, cậu ạ.
- Khỏi phải nói với cha mẹ cháu, chú ạ. Cha mẹ cháu thường nói chú là chỗ thân tình nhất của nhà
cháu ở đây. Cha mẹ cháu không muốn chú gọi chúng cháu bằng cậu, không muốn gọi cha mẹ cháu là
ông bà.
- Rứa à... cháu! - anh phó Tràng bật ra tiếng "cháu" một cách hồn nhiên mà giọng nói vẫn còn rung
ngần ngài ngại!
- Đó! Chú gọi "cháu" nghe sướng hơn. Chú gọi "cậu" cháu phải nghe thôi chứ chẳng thích đâu, chú
ạ.
- Rồi. Việc nớ rứa là xong, nghe cháu. Chừ chú hỏi cháu đi ra đây có việc chi?
- Cháu đi đón mẹ cháu chợ về, chú ạ.
- Đi về cháu. Mẹ cháu đi chợ Mai mà.
- Ban sáng mẹ cháu biểu đi chợ chi... cháu, cháu nghe thoáng, quên mất, chỉ nhớ là có đi qua Gia
Hội, chú ạ.
- Chú gặp mẹ cháu lúc mới sớm, đi lên cửa Thượng Tứ nói đi chợ Mai. Cháu không tin chú à?
- Cháu... tin lắm...
Thấy Côn buồn buồn, anh phó Tràng an ủi:
- Chừ thì có khi mẹ cháu đã về ở nhà rồi, cháu ạ. Ta về cháu. À! Cháu vô quán ăn với chú một
miếng chi, ấm bụng đã.
Côn chớp chớp mắt nhìn anh phó Tràng:
- Chú đi cả ngày không có việc làm, lấy tiền đâu chú cháu ăn quà, hả chú?
- Đã đến nỗi chi mà lo cho nhọc cái bụng hả cháu? Lẽ mô chú mất việc một ngày mà đã cạn tiền
lưng, gạo bị? Chú mời cháu đi ăn là đã dòm ngó vô cái bị dự trữ của mình rồi.
Côn ngập ngừng, đầu hơi cúi xuống nhìn bàn chân anh phó Tràng to gần như cái bẹ cau, bước chắc
nịch. Côn níu chặt tay anh phó Tràng:
- Chú ơi!
- Cháu lại muốn thay đổi việc chú mời cháu ăn cơm hàng?
- Cháu mời chú cùng đi về nhà cháu ăn cơm với cha mẹ cháu, với anh em cháu. Lúc cháu ra đón mẹ
cháu, anh Khiêm cháu đang dọn cơm đợi cha mẹ về cùng ăn cho vui, chú ạ.
- Hề hề... - anh phó Tràng cười to, nói oang oang giữa đường cái - Cháu thảo ăn, tốt bụng lắm. Con
nòi của giống, ông cha nói nỏ có sai. Cha cháu nổi tiếng ngươi nhân cách, người hiền, giàu chữ, trọng
nhân nghĩa với cái biệt danh mộc mạc:"Ông cử Nghệ". Mẹ cháu một thục nữ đã ba con mà ra đường nỏ
ai coi là nạ dòng. Bà thảo hiền, thương người như thể thương thân. Có một miếng ăn ngon, bà cũng bớt
ra chia sớt với bà con xóm giềng. Ai đứt bữa, ai tối lửa tắt đèn, ba chìa tay giúp đỡ trong tình lá lành
đùm lá rách. - Anh vuốt tóc của Côn sắp búi được đụm củ hành. Giọng anh càng tha thiết - Các cháu
về sau sẽ được hưởng phước lộc của mẹ, của cha. Mẹ cháu chữ còn nhiều hơn một số bà phi trong
Nội. Chú vô Nội chữa cung điện, chữa cả giường, cả ghế của các bà phi, chú được ngửi hương trầm
mà cũng bị sặc mùi xú uế ở trỏng, cháu ạ... Anh phó Tràng nói một thôi dài nối theo một tiếng thở não
nuột. Anh hạ giọng:
- Chú nghe lời cháu về nhà cháu cùng ăn cơm. Cái vui của gia đình chắc làm ấm đời chú một phần.
Nhưng...
- Sao lại nhưng nữa, hả chú?
- Nhưng chú phải ghé tiệm mua một món chi cho thêm tươi tươi bữa cơm gia đình, cháu ạ.
- Không. Cháu không để chú mua một món chi khác nữa đâu. Ở nhà cháu còn có cá kho, mắm chua,
lại còn nồi cá tươi nấu lát nữa.
Côn hỏi dồn luôn:
- Chú ơi!
- Có chuyện chi hỏi chú nữa?
- Sao lại có cái tục lệ đem mâm cỗ ra đường cúng, hở chú?
Anh phó Tràng nhìn sang hai bên đường trầm ngâm, bước chậm lai. Giọng nói của anh trầm hẳn
xuống:
- Bữa ni... ngày... hăm...ba... tháng... năm... Ngày Quốc hận, cháu... ơi! - Anh cầm gọn bàn tay Côn
nhỏ xíu mềm như chiếc lá non - Cả Kinh thành quyện mùi hương khói!
2.
Tiếng súng Thành chao đưa, màn đêm buông gấp gáp.
Cửa Thanh khép kín.
Thành Nội, tấm áo giáp của Đại Nội chìm vào đêm tối.
Khiêm đang lom khom trên phản làm ngựa cho Côn cưỡi, nghe tiếng súng Thành, hai anh em ngừng
cuộc chơi. Khiêm nói:
- Học thuộc bài sớm để rồi xin cha kể cho nghe tích ngày Quốc hận, em ạ.
Côn giao hẹn:
- Anh hoặc em học thuộc bài trước, ta cùng đợi nhau nghe cha kể, anh nhá.
- Anh chưa lần nào học thuộc bài trước em cả.
- Thì em đợi anh. Khuya mấy em cũng đợi mà.
- Đợi anh hay em ngủ lăn ra giường, đánh thức mỏi cả miệng.
- Em hẹn với anh nhá, hễ thấy em ngủ say gọi không dậy, anh cứ véo đau vô đùi em, em tỉnh ngay
anh ạ.
- Ê,...ơi! Vé...o thật đau vô đùi em! Nghe em dặn ngon ơ. Nhưng anh con nhớ dạo nọ em học xong,
lăn ra ngủ, chưa xếp sách lên kệ, chưa rửa mặt, rửa tay chân. Mẹ không cho anh làm thay, bắt gọi em
dậy làm xong phần việc mới được ngủ. Anh lay mãi em vẫn không dậy, ừ ừ mấy tiếng rồi lại ngủ khì.
Anh cù vô nách em, cù nhẹ thôi. Vậy mà em cáu lại anh, tuôn ra một tràng chữ trách anh:"Đệ niên
thượng trĩ. Đệ hữu bất tri giả, huynh tất tường vị. Giáo đệ, huynh khởi vong chi hồ?" (Tuổi em còn nhỏ,
có điều gì chưa biết, anh dạy em, sao anh lại quên điều ấy?). Anh liền bị cha quở trách về tội không
khuyên bảo em, lại trêu chọc em.
- Lần ấy em thưa lại ngay với cha, lỗi ở em và em đã xin lỗi anh cơ mà.
Dọn dẹp xong việc bếp núc, chị cử Sắc ngồi vào khung cửi dệt. Tay chị đưa thoi thoăn thoắt. Chị
nhắc hai con:
- Cha các con sắp về đó. Các con học bài đi. Chuyện chi mà ồn lên rứa?
- Chúng con đang ôn bài, mẹ ạ - Côn nháy mắt với anh.
- Mẹ đã vào khung dệt rồi. Anh em mình học bài thôi.
Hai anh em học chung một đèn. Côn lấy que tăm khơi hai bấc thành hai ngọn đèn trong đĩa dầu lạc.
Khiêm hai tay bưng cằm tựa lên bàn, học nhẩm từng chữ. Côn thì viết ra giấy nháp, xướng lên nho nhỏ
để nghe từng chữ: Ái quốc, nghĩa là yêu nước. Quốc dĩ dân lập, nghĩa là, nước do dân lập nên. Dân dĩ
quốc tồn, nghĩa là dân còn thì nước còn. Vô dân tắc quốc hà do thành, nghĩa là không có dân sao thành
nước được? Vô quốc tắc dân hà sở tý nghĩa là, không có nước thì dân lấy đâu ra sự che chở? Cố quốc
dân tất ái quốc, nghĩa là, dân trong một nước thì phải yêu nước...
Anh cử Sắc vào Quốc sử quán thăm một người bạn là ông Phó bảng Cao Xuân Tiếu và mượn ít
sách. Anh đi từ sau bữa cơm chiều. Lúc về đến đầu sân, anh nhìn vào nhà, lòng bồi hồi, bởi lâu nay
anh chăm viêc sách đèn, lo việc thi cử và dạy học cho con mình, cho con em bạn bè nhờ, ít khi lưu ý
về cuộc sống gia đình. Anh quá yên tâm vì đã có Hoàng Thị Loan, người vợ hiền đảm đang, gánh vác
mọi việc lớn, việc nhỏ trong gia đình. Tôi nay, đứng ngoài sân, anh nhận rõ niềm vui hạnh phúc của
gia đình mình mà tưởng chừng chuyện trong sách, mẹ dệt cửi thâu canh, con đèn sách chuyên cần.
Anh bước vào nhà, giọng ấm áp:
- Mình nghỉ tay một tý chứ? Làm quần quật cả ngày, tận khuya vẫn không rời con thoi.
- Nhà về muộn rứa... Tôi cố dệt cho xong tấm đũi, bà hàng tấm bên Dinh hẹn lấy cho phiên chợ này.
Khiêm, Côn thấy cha về, xếp sách, đặt vào kệ gọn gàng. Khiêm nháy nháy mắt với em:
- Em nhắc lại với cha, xin cha kể chuyện ngày Quốc hận, nhé.
- Anh thưa với cha hơn, chứ anh.
- Em...
Thấy cha vào, Khiêm thôi không nói với em nữa. Cả hai anh em ríu rít chào hỏi cha. Anh Sắc ân
cần:
- Các con đã học thuộc bài chưa?
- Dạ... đã, chúng con... chúng con thuộc cả rồi ạ.
- Khiêm thuộc đọc thật làu chứ?
- Thưa cha, bài ni con thuộc kỹ hơn mọi bài trước đây ạ.
- Vậy thì con tấn tới lên rồi. Là anh con phải cố gắng học giỏi, làm gương sáng cho em.
- Thưa cha, em Côn sáng dạ. Bà ngoại, mẹ đều nhủ: Bé Côn có cái bụng sáng hơn đèn. Con khó học
kịp em Côn, cha ạ.
Anh Sắc cười hiền từ:
- Con tự xếp mình đứng đằng sau em về đường đèn sách à?
-...
- Về miếng ăn, anh nhường em, em nhường anh. Đó là đức tính đáng quý. Nhưng việc học phải cùng
nhau đua tranh, cùng nhau tấn tới. Bẩm sinh thông minh, sáng láng mới chỉ là cái mầm, chưa phải cây
ra hoa, kết trái. Cha đã từng nói với các con: Ngọc bất trác bất thành khí (ngọc không mài dũa không
thành của quý). Phải lập chí từ lúc tập cầm bút, tập cầm cày, tập cầm cưa, cầm đục, các con ạ.
Anh cử Sắc không gọi Khiêm đọc bài mà gọi Côn:
- Côn đọc bài: Ái quốc.
Côn đứng gần án thư cha, hai tay vòng trước ngực, mắt nhìn vào ngọn đèn trên bàn, Côn đọc một
mạch rành rọt từ câu mở đầu:"Quốc dĩ dân lập"... cho đến câu chót của bài học thuộc lòng.
Anh hỏi kiểm tra ngay:
- Con giải nghĩa câu:"Quốc giả, tái dân chi châu dã" đến "kỳ quốc tiểu hữu năng hãnh tồn giả".
Côn thấm lưỡi qua môi, giảng giải:
- Tổ quốc là con thuyền, dân ở trên con thuyền ấy. Điều lợi, điều hại của Tổ quốc chính là niềm vui,
nỗi lo của dân. Nếu như người nào cũng nghĩ đến lợi riêng mình, không lấy việc nước làm trọng, hoặc
còn ra sức phá hoại thì còn gì là nước, là dân!.
- Con về chỗ.
Anh cử Sắc lại kiểm tra Khiêm.
- Khiêm giải nghĩa câu: Phản Tổ Quốc, do châu nhân tự huyệt kỳ châu dã.
Khiêm nhìn lên mái nhà, nói:
- Kẻ phản bội Tổ Quốc khác chi người trong con thuyền lại tự đục thủng thuyền.
- Con về chỗ
Phút yên lặng. Tiếng cửi dệt của chị cử Sắc từ trong buồng vọng ra đều đều.
Anh Sắc nhìn hai con đầy tin tưởng:
- Các con ra đời vào thời buổi đất nước nhiễu nhương của thế kỷ này. Nhưng các con là người gánh
trọng trách của thế kỷ sau. Chỉ còn ít năm nữa là sang thế kỷ hai mươi rồi. Cha mẹ sẽ gắng hết sức lo
cho các con học. Có học mới hiểu biết, có hiểu biết mới có vốn để làm nên...
Anh đứng dậy, cho phép hai con:
- Hai anh em đi rửa mặt, rửa tay chân. Bài học tối nay cả hai anh em đều đang khen.
Côn nhắc luôn với cha:
- Thưa cha, lúc chiều cha dặn học bài tốt thì cha sẽ kể cho nghe chuyện ngày Quốc hận, ạ.
- Cha vẫn nhớ.
*
Chị cử Sắc khe khẽ đặt mình xuống giường. Bóng trăng nghiêng như giải lụa vàng giăng ngang cửa
sổ. Qua ánh trăng trong, chị nhìn lờ mờ những cành cây nhún nhảy, bóng vờn trên sân vắng lặng. Sự
vắng lặng đêm hè chốn kinh đô đã khơi gợi niềm nhớ quê... Hình ảnh người mẹ già, cụ Hoàng Xuân
Đường, hình ảnh của con gái đầu lòng Nguyễn Thị Thanh, cô em gái Hoàng Thị An cứ lởn vởn trước
vừng trán chị, rồi xa dần, lẫn vào tiếng chồng đang kể chuyện cho hai con ở gian bên mà lại nhập vào
tâm trí chị:
-... Tự Đức, một ông vua thuộc hàng nhiều chữ nhất của triều Nguyễn. Nhưng ông đã tự thú trong
văn bia của ông ở Khiêm Lăng về tội để mất nước, các con ạ. Chính ông, dưới thời ông trị vì mà
những ba lần làm văn bản bán nước. Lần đầu ký văn bản cắt ba tỉnh miền đông Nam Kỳ cho Tây
dương vào năm Nhâm Tuất (1862). Năm Giáp Tuất (1874) lại làm giấy bán toàn bộ Nam Kỳ. Năm
Quí Mùi (1883) làm giấy bán cả nước ta cho người Tây dương, năm ấy đức vua băng hà (chết). Năm
Giáp Thân (1884) triều đình làm giấy bán tiếp, bán đoạn nước ta cho Tây dương gọi là hiệp ước Giáp
Thân.
- Mẹ sinh chị Thanh năm đó, cha nhể? - Côn hỏi.
Khiêm rầy em:
- Cha đang nói chuyện hệ trọng, em lại đá gà cái chuyện mẹ sinh, nỏ ăn nhập chi hết cả.
- Ơ kìa, anh tưởng chỉ có việc vua Tự Đức chết là hệ trọng, còn việc mẹ ta sinh con không hệ trọng
à?
- Em nói việc mẹ ta sinh thì hệ trọng cái nỗi chi nào?
Anh cử Sắc lặng thinh cho hai con tranh cãi để biết khiếu lập ngôn của con. Chị cử Sắc nằm trong
giường thì bấm bụng cười thầm. Côn nằm cạnh cha, níu lấy cánh tay cha, hỏi gặng:
- Anh Khiêm biểu việc mẹ sinh không có chi là hệ trọng, vua chết mới là việc hệ trọng. Riêng con
thì vua chết là hết phận sự, chỉ còn lại tai tiếng hay danh thơm. Còn mẹ sinh ra các con để có thêm
người, lớn lên lo việc nước, hay đi dạy học cho nhiều người biết chữ, hay cày ruộng có thêm nhiều
thóc gạo, ai cũng được ăn no. Con nghĩ vậy, có phải không thưa cha?
Anh cử Sắc chưa trả lời cho Côn mà hỏi Khiêm:
- Em nó giãi bày lý lẽ vậy, con là anh, thấy sao?
- Dạ... dạ... thưa cha, em con nói rõ ra thì nghe cũng ... cũng phải, cha ạ. Nhưng mà...
- Nhưng mà, gì nữa - Anh cử Sắc hỏi Khiêm.
- Nhưng mà em Côn nó khôn lắm. Nó nói cách chi nghe đều xuôi cả.
- Anh Khiêm khen em như rứa, em buồn lắm. Em có khi nào nói việc ngược thành xuôi, xuôi thành
ngược đâu?
- Em Côn của con dầu có khôn đến mấy, vẫn là em của con. Con là anh, nói với em, phải nói lời
chính ngôn, con ạ.
- Dạ, con đã rõ, thưa cha. Côn sốt ruột:
- Cha ơi, cha kể tiếp nước ta sau khi bị người Tây dương đô hộ, vua Tự Đức chết, rồi sao nữa, cha?
- Khuya rồi con ạ. Các con sang giường ngủ. Hôm sau cha lại kể cho các con nghe.
*
Cơn mưa mùa hạ vừa dứt, trời lại đầy sao. Trăng cuối tháng chưa mọc. Khiêm, Côn chép xong bài
sớm. Chị cử Sắc vẫn một mình một đèn ngồi trong buồng mắc sợi vào go, chuẩn bị dệt tấm vải mới.
Anh cử Sắc xếp sách lại, rời khỏi án thư bước tới phản, nơi hai con đang ngồi đợi nghe cha kể tiếp
chuyện ngày Quốc hận.
- Côn lấy cho cha cái gối xếp để cha tựa! Côn sang giường cha bê đến bộ gối xếp ba tầng, Khiêm
biết tính cha, lúc nói chuyện với bạn, lúc kể chuyện cho con nghe, lúc ngồi viết sách, thơ, phú thường
có chén rượu nhấp một tí thấm giọng. Khiêm lặng lẽ đến bàn thờ lấy nậm rượu, một chén bạch định, rót
đầy rượu, đặt bên cạnh cha.
- Các con ngồi vào. Côn nũng cha:
- Con được nằm nghe chuyện thì nhớ hơn là ngồi, cha ạ.
- Ừ, thì con nằm bên cha đây.
- Con nằm bên cha mà được gối đầu lên đùi cha thì nghe chuyện càng thích thú, chóng thuộc
chuyện...
- Vẽ chuyện - Khiêm giễu em - Đầu em nặng làm mỏi đùi cha. Ích chi việc gối đùi?
- Cũng được, em nó thích vậy, cha chiều. Côn nằm gối đầu lên đùi cha. Khiêm ngồi tựa lưng vào
vách. Hai anh em mắt đầy mơ màng lắng cả tâm hồn ngây thơ vào dòng suối chuyện của cha:
- Vua Tự Đức không có con, ngài chọn một số cháu làm con nuôi, như Ưng Chân, Ưng Đăng, Ưng
Kỷ. Trước ngày đức vua băng hà, tức ngày 14 tháng 6 năm Quí Mùi (1883) đức vua triệu các đại thần
viện Cơ mật là Tôn Thất Thuyết, Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường vào chầu. Tự Đức ký và trao
Di chiếu truyền ngôi cho Ưng Chân, người con nuôi mà Tự Đức yêu mến nhất. Ưng Chân vốn là con
thứ hai của Hồng Y. Ông Hồng Y là em trai thứ tư của Tự Đức, được Tự Đức phong làm Kiến Thụy
công. Trước đó, năm Kỷ Tỵ (1869) vua công bố dạo dụ chọn Ưng Chân làm hoàng tử kế vị và phong
làm Thụy quốc công Dục Đức. Năm ấy, Dục Đức tròn mười tám tuổi. Dục Đức là phụ hoàng của Đức
vua Thành Thái ngày nay đó, các con ạ.
- Sao không gọi là Thái Thượng hoàng, thưa cha? - Khiêm hỏi.
- Vua cha truyền ngôi cho con thì lên chức Thái Thượng hoàng. Ông vua nào không được truyền
ngôi cho con lúc còn sống thì gọi là phụ hoàng, nghĩa là cha của vua. Tiếc thay vua Dục Đức ở ngôi
chỉ có ba ngày, đây là ông vua ngắn đời nhất của lịch sử nước ta. Bởi lẽ, vua Tự Đức biết một số tính
tình không hay của thái tử Dục Đức, và ghi rõ vào di chiếu truyền ngôi để Dục Đức biết mà sửa, các
quan trọng thần biết mà giúp vua ngăn ngừa. Nhưng, Dục Đức e ngại đoạn văn đó trong Di chiếu, ông
mật bàn với các phụ chánh đại thần Tôn Thất Thuyết, Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường sẽ không
đọc đoạn văn nói lên nhược điểm của mình trước triều đình trong lễ đăng quang. Bề ngoại các phụ
chánh đều ưng thuận, bên trong lập mưu hạ bệ Dục Đức bằng cái cớ này để đưa em trai Tự Đức là
Hồng Dật lên ngôi. Quả nhiên lúc vua Dục Đức cho đọc di chiếu của vua Tự Đức đã không cho đọc
đoan văn nhận xét một số tính tình không hay về ông. Phụ chánh đại thần Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn
Tường... đứng lên phát giác. Phụ chánh đại thần Tôn Thất Thuyết hạ lênh bắt ngay vua Dục Đức đưa đi
giam tạm ở viện Thái y, sau chuyển sang ngục Thừa Thiên và ông bị chết đói trong nhà ngục ngày
mồng 6 tháng 9 năm Giáp Thân (24/10/1884). Vợ con ông cũng đều bị bắt giam. Ngay tại lễ thiết triều,
quan Ngự sử Phan Đình Phùng đứng lên phản đối việc bắt vua Dục Đức hạ ngục. Ông cho rằng: Vua
Dục Đức dấu triều đình về những điều viết xấu về mình trong Di chiêu chưa đáng tội phải hạ ngục.
Vua có làm điều gì sai thì giúp vua sửa mình. Việc bé chớ xé thành to mà gây ra thù oán, hiểm họa.
Vận nước đang nghiêng ngả, giặc Tây dương đã nuốt gần hết giang sơn, kinh đô đang bị giặc uy hiếp
mà trong triều, vua tôi không thuận thì khác nào tự mở cửa Thành mời giặc vô ngự trị! Các con ơi!
tiếng nói của quan Ngự sử là tiếng nói can gián đừng làm điều có hại đến việc lớn mà ông cũng bị bắt
ngay buổi thiết triều.
Ba cha con anh cử Sắc chìm giữa im lặng, chị cử Sắc chăng sợi lên khung cửi ở trong buồng vẫn
chăm chú nghe tiếng chồng lúc to, lúc nhỏ, bổng trầm và thấm đau từng lời.
- Quan Phan Đình Phùng đã bị bắt ngày ấy sao hiện đang cầm quân đánh Tây ở quê ta, hả cha? Côn hỏi.
- Ông bị bắt ...
Sơn Tùng
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Table of Contents
Mục lục
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
TỪNG GIỌT NƯỚC NHỎ THẤM VÀO LÒNG ĐẤT CHẢY VỀ MỘT HƯỚNG MỚI THÀNH
SUỐI THÀNH SÔNG. BIẾT BAO NHIÊU GIỌT NƯỚC NHỎ HỌP LẠI MỚI THÀNH BIỂN CẢ.
MỘT PHO TƯỢNG HAY MỘT LÂU ĐÀI CŨNG PHẢI CÓ CÁI NỀN ĐẤT VỮNG CHẮC MỚI
ĐỨNG VỮNG ĐƯỢC.
NHƯNG NGƯỜI TA DỄ NHÌN THẤY PHO TƯỢNG VÀ LÂU ĐÀI MÀ KHÔNG CHÚ Ý ĐẾN
CÁI NỀN. NHƯ THẾ LÀ CHỈ THẤY CÁI NGỌN MÀ QUÊN MẤT CÁI GỐC.
HỒ CHÍ MINH
(Tuyển tập, Tâp II, trang 480)
1.
Đã qua giờ Mão sang Thìn. Mặt trời len lỏi mới ra khỏi những vầng mây vảy rồng. Từ góc trời
đông, mộ tia năng vàng xuyên qua tán cây chè vối đậu vào thau nước để trên sân ngời lên ánh sắc lung
linh chiếu vào tốp học trò nhỏ của thầy Nguyễn Sinh Sắc đang giờ viết tập.
Côn tô nét chữ cuối cùng, đặt bút xuống, ngồi thẳng người, ngực hơi nâng lên phía trước, đầu
nghiêng nghiêng ngắm những hàng chữ viết tập mà cha cho mẫu trước lúc vào Quốc Tử Giám dự bình
văn. Côn gật gật đầu, tự tin bài viết tập của mình sẽ được nhiều dấu khuyên của cha. Và hình ảnh cha
ẩn hiện trong đầu, văng vẳng bên tai tiếng cha dặn học trò lúc đi:
- Dù thầy vắng mặt, các trò vẫn luôn luôn như thầy hiện diện thì mới là người học trò: Đức ngôn
thịnh lễ ngôn trung (đức nhiều lễ kính).
Một con mèo cái có dáng và bộ lông báo, bốn chân đi bít tất trắng từ trên bàn thờ nhảy xuống phản,
đi rón rén đến bên Côn, cất tiếng gọi: me..o m..eo... Côn xoay người đón bế con mèo, vuốt ve nó. Con
mèo nũng nịu dúi dúi cái đầu lông mượt như nhung vào lòng Côn và hai mắt lim dim như vòi được ru
để ngủ. Mấy bạn ngồi gần Côn đang chăm chú viết, dừng bút nhìn trìu mến con mèo ngoan ngoãn trong
vòng tay ôm ấp của Côn. Nhìn âu yếm nhất, trìu mến nhất là hai cặp mắt trong sáng Công Tôn Nữ Huệ
Minh và Lê Thị Hạnh ngồi bàn riêng ở gần cửa đi vào buồng Hoàng Thị Loan, thường gọi là bà cử Sắc
hay thím cử Sắc.
Nguyễn Sinh Khiêm, mặt thoáng một nét nghiêm, nhắc Côn:
- Côn! em viết xong rồi còn phải giữ yên tĩnh để các bạn khác viết chứ. Em quên lời cha dạy lúc
sáng à?
Côn dí ngón tay trỏ vào con mèo
- Tại con mèo cưng ni, anh ạ.
- Em không nhận lỗi, mà còn đổ cho mèo?
- Em vẫn ngồi yên xem lại bài thì bé mèo đến quấy rầy em đó.
- Em phát cho nó mấy cái đuổi nó đi, lúc khác hãy...
Diệp Văn Kỳ vỗ vỗ vào đầu con mèo, nói nhỏ:
- Phát nhè nhẹ ri, dọa nó thôi. Nó ngoan lắm!
Tôn Thất Tuấn, trạc tuổi với Khiêm, ngồi gần Kỳ, sải tay sang phát mạnh vào lưng con mèo. Bị đánh
bất ngờ, con mèo nhảy vọt ra khỏi lòng Côn, chạy vào buồng, đứng trên khung cửi dệt nhìn ra lớp học,
kêu me...o me...o... Côn nhìn theo con mèo, hai mắt chớp chớp vẻ xót xa. Kỳ chau mày định đấm trả
Tuấn một cái lỗi đánh mèo vô cớ. Nhưng Côn đã kéo tay Kỳ lại, giọng Côn hơi dỗi:
- Cậu Tuấn đánh mèo đang ngủ trong tay tôi thì có khác chi người "đánh chó không ngó chúa", đó
nha.
Tuấn cười hề hề như chẳng có can cớ gì đến mình cả. Bốn anh học trò lớp chuẩn bị thi Hương, ngồi
bên cửa sổ phía hồi nhà đều quay lại, một anh nói:
- Cậu Tuấn xin lỗi cậu Côn đi.
- Tôi... tôi xin lôi cậu Côn nghe. Côn cười tươi, nói:
- Cậu Tuấn đánh mèo thì xin lỗi mèo mới phải chớ.
Cả lớp học cười vui vẻ. Kỳ chạy vào buồng định bắt con mèo ra cho Tuấn xin lỗi, nhưng con mèo
đã nhảy tót lên xà nhà.
Hồ Quang, người học trò nghèo, vẫn cặm cụi viết.
Cả lớp đã viết xong bài tập. Mỗi người đặt nghiên mực của mình vào bàn độc thành hàng ngay ngắn,
cho bút vào ống, đậy nắp chặt để mang theo về với sách học. Đám học trò nhỏ chạy ra ríu rít trên sân.
Bốn người học trò lớn xếp bốn bài tập thành chồng trên án thư của thầy. Bước ra khỏi cửa, bốn người
giương bốn ô lên, chân đất, quần trắng, áo dài lương, khăn nhiễu, tóc búi đụm, dáng đi đường bệ nho
sinh, cử tử.
Huệ Minh và Hạnh bị cảm, cố gắng đi học nhưng không dám về dưới nắng trưa, hai cô ngồi đợi gia
nhân đưa xe đến đón. Hai cô giở đồ thêu ra và ngồi thêu tại bàn học.
Thấy trời nắng to, Khiêm bê củi trong bếp ra sân phơi. Huệ Minh, Hạnh chạy vào bê giúp, nhưng
Khiêm ngăn lại:
- Đừng... xin mệ và cô đừng... cảm ơn. Mệ và cô đang còn ốm mà. Ngay lúc đó Hồ Quang, Kỳ, Côn
- từ ngoài vườn đang đuổi bắt chuồn chuồn - đã chạy vào bê củi ra sân... với Khiêm. Côn trách anh:
- Chẳng gọi em, anh bê củi một mình!
- Có nhiều nhặn chi, một mình anh làm cũng được.
- Mỗi người mần một chút vừa vui, vừa lẹ việc chớ!- Cậu Quang trải mớ củi ra giữa sân, nói.
- Cậu Khiêm còn khách khí với tụi tui nghe!- Kỳ nói vui khi xong việc.
Khiêm thanh minh:
- Đâu có rứa. Cậu Kỳ nghĩ "oan" cho tôi rồi. Tuấn đi ra ngõ đứng nói chuyện với một nho sinh, học
lớp ôn thi Hương.
Không kể gì nắng găt, Côn và Kỳ lại lúi húi theo bắt hai con chuồn chuồn bên dọc hàng dâm bụt.
Côn nhón chân, cúi sát bên bụi cây đi lò dò, tay sải ra đằng trước chìa hai ngón tay bắt được con
chuồn chuồn sứ.
Kỳ không cúi được thấp, bước nặng chân, con chuồn chuồn thấy động bay lên lại sà xuống đậu. Côn
nhắc khẽ Kỳ:
- Cúi thấp nữa... thấp xuống nữa... nhón bàn chân lên, đi bằng ngón chân thôi...
Đi được vài bước, không chịu được mỏi, Kỳ thẳng người lên. Con chuồn chuồn vội bay vụt lên sang
bên kia vườn. Hai cặp mắt ngây thơ nhìn theo con chuồn chuồn lấp lánh ánh biếc dưới nắng trưa mênh
mang.
Kỳ thở dài:
- Tiếc quá. Con chuồn chuồn voi đẹp chưa từng thấy.
- Tại cậu, bắt chuồn chuồn mà đi ào ào như đuổi chuột, bắt sao được?
- Cậu Côn dẻo người. Cúi xuống lâu mấy cũng được, đi nhẹ như mèo. Có lẽ cậu cầm tinh con mèo.
Côn cười, hai ngón tay cầm đuôi con chuồn chuồn bàn tay kia chìa ra cho nó đậu lên. Con chuồn
chuồn vẫy vẫy cánh, sắc biếc ánh lên lấp lánh.
- Đẹp tuyệt - Kỳ tấm tắc khen.
- Mắt nó giống như mắt con phụng khảm xà cừ ở cánh tủ nhà cậu Tuấn hề.
- Đúng rồi - Kỳ tán thưởng nhận xét của Côn - hai cái cánh nó rất giống đai mũ của các quan trong
triều thường đội, các cậu nhể.
- Vì rứa mới gọi là mũ cánh chuồn... hề... hề...
Kỳ cười khoái trá. Côn gật gật đầu cùng cười vui. Kỳ còn nhận xét thêm:
- Cái đuôi nó giống cái xiên nhuộm phẩm để vua xiên mứt, kẹo...
Côn vẻ ngạc nhiên:
- Vua mà cũng ăn kẹo, ăn mứt như trẻ con chúng mình à?
Kỳ hơi sững lại, nhắc khẽ Côn:
- Nói "vua ăn" sẽ bị quở đó, cậu Côn ạ.
- Không được gọi "ăn" thì gọi là "vua chén" à?
- Ấy... ấy đừng nói rứa – Kỳ hơi cuống - Các quan thị vệ và bọn lính hộ thành nghe được thì nguy
to...
- Không gọi "ăn", không gọi "chén" thì gọi bằng tiếng chi?
- Phải nói là "vua ngự thiện".
- Ngồi ăn mà lại... gọi là ngự... thiện? Tối nghĩa lắm - Côn đay giọng.
- Vua khác người thường mà cậu - Kỳ bào chữa.
Hai cậu học trò mải mê ngắm ánh sắc con chuồn chuồn và bàn cãi về việc gọi "vua ăn", "vua ngồi"
không để ý kỹ, giờ Côn mới nhận ra cánh con chuồn chuồn bị rách.
- Thả ra coi nó còn bay được nữa không? - Kỳ nói.
Côn xòe rộng bàn tay, con chuồn chuồn đậu trong ban tay Côn vây vây cánh, đuôi nhúc nha nhúc
nhích. Nó nhấc mình bay lên là là rồi đậu xuống một cành cây thấp phía xa, Côn, Kỳ chay theo con
chuồn chuồn. Côn đưa tay ra... nhưng con chuồn chuồn đã bay lên một cành cây cao hơn. Côn phải né
nghiêng tránh bóng mình khỏi vương vào mắt con chuồn chuồn rồi nín thở vươn tay ra túm lấy đuôi,
chú chuồn chuồn rướn bay lên không nổi nữa đành phải uốn cong bám chặt lấy tay Côn, cánh vẫy vẫy...
Côn cười vui với bạn:
- Nó bay còn khỏe lắm. Để lát nữa tôi đưa cho bé Xển. Tội nghiệp, bị bại liệt, bé chỉ xển quanh
trong nhà!
- Ừ. Phải rồi - Kỳ hồ hởi nói - được con chuồn chuồn ni, bé Xển sẽ vui gấp mấy lần...
Côn nhìn xuống sân xem bóng nắng:
- Sắp hết giờ Tỵ. Chúng mình đến bé Xển trở về vẫn còn kịp giờ gia nhân đến đón cậu.
- Được thôi. Đi nào!
- Khoan, anh Kỳ vô xin mệ Huệ Minh, hay cô Hạnh sợi chỉ màu cột đuôi nó thì bé Xển mới giữ
được nó chứ.
- Ừ. Cậu Côn sáng ý đó - Kỳ nói.
Giữa lúc hai cái đầu chụm lại, cột đuôi con chuồn chuồn sứ thì Tuấn từ ngoài ngõ vào, xòe tay chộp
lấy. Vì quá mạnh tay, con chuồn chuồn bị đứt đuôi, rách nhàu hai cánh.
Côn thõng hai tay xuống nhìn Tuấn:
- Anh... Tuấn... - Côn không gọi tiếng cậu một cách bình thường nữa.
Kỳ tím mặt lại.
Thấy không ai nói một lời nào khác, Tuấn biết lỗi, đứng ngây người nhìn các bạn, lúng túng:
- Con chuồn chuồn chứ mô phải báu vật chi mà các cậu tiếc hung dữ rứa?
- Từ giờ bọn tôi nỏ chơi với cậu Tuấn nữa. Côn nói dằn từng lời. Kỳ thì gay gắt hơn:
- Tôi sẽ thưa thầy và thưa với hai bác ở nhà. Anh Tuấn đừng trách tôi đó.
Tiếng nhạc ngựa ngoài xa nghe rõ dần. Huệ Minh và Hạnh ở trong lớp chạy ra:
Để gỡ bí cho bạn, Quang gọi:
- Các bác ơi, đánh xe vô đây. Tuấn ngăn lại:
- Ấy chết! phải giữ lễ chứ anh Quang. Học trò không được đưa xe, đưa cáng vô tận ngõ thầy học của
mình. Nói xong Tuấn lảng đi. Huệ Minh, Hạnh, Kỳ, ríu rít chào đi ra xe. Nhưng không thấy Tuấn đâu
cả. Kỳ chạy vào nhà chỉ có Khiêm và Quang trong đó. Kỳ lại chạy trở ra xe. Hai cô đã lên xe song mã
đỗ ở trước lối đi ra đường Đông Ba. Kỳ còn chạy kiếm một vài nơi quanh mà vẫn không thấy Tuấn. Kỳ
đành lên xe về một mình. Hai chiếc xe từ từ lăn bánh theo nhịp đi của ngựa. Những con mắt trẻ thơ
trên hai cỗ xe ngựa ngoái lại nhìn Côn lưu luyến!
Côn đi trở vào tay vẫn còn cầm con chuồn chuồn sứ cụt đuôi. Nhìn nó một lúc nữa rồi Côn để nó
đậu lên một cành cây râm mát, khuất vào phía trong vườn. Thấy Tuấn từ ngoài đường cái chạy vào,
mướt mồ hôi, Côn đon đả hỏi:
- Cậu Kỳ đi tìm khắp, chẳng thấy cậu đâu. Cả hai xe về mất rồi.
Tuấn hơi ngượng ngập:
- Gặp xe tiện thì đi, không thì tôi đi bộ vui chân hơn, cậu ạ. Tuấn đứng sát bên Côn, giọng thầm thì:
- Cậu đừng giận tôi nghe. Tôi biết sai rồi. Cậu cũng đừng thưa với thầy...
Côn tươi cười:
- Giận dỗi nhau tí chút, xong thôi. Ai lại thưa thầy viêc vặt ấy.
Tuấn làm lành thật tình. Tuần cầm cái gói bọc giấy vẻ ngường ngượng, nài nỉ:
- Cậu cầm dùm... của nhà làm, ngon lắm.
- Cái gói chi? Tôi chẳng cầm đâu.
- Kẹo đó mà. O tôi ở đằng Anh Danh chuyên làm bánh kẹo cho trong Nội.
- Không, cảm ơn cậu. Tôi không dám nhận đâu.
- Cậu Côn vẫn chưa thứ cho tôi à?
- Ấy! cậu còn nghĩ tôi hẹp bụng vậy à?
- Răng nỏ nhận kẹo? Đây. Tôi có hai gói. O tôi cho tôi một gói, một gói gởi biếu cậu và cậu Khiêm
mà.
- Tôi hiểu lòng thảo cua cậu lắm. Nhưng từ trước tới giờ mẹ tôi không cho anh em tôi nhận bất cứ
món quà nào dầu nhiều dầu ít của ai khi chưa được cha mẹ cho phép.
- Đây chỉ là gói kẹo, mô phải quà cáp chi, cậu? Côn nể bạn, nói:
- Cậu mở ra coi đã.
Tuấn mở gói, những chiếc kẹo nhuộm ngũ sắc rất đẹp mắt.
Côn nhón tay cầm hai chiếc:
- Để cậu khỏi áy náy trong lòng, tôi xin hai cái, tôi một cái, phần anh Khiêm một cái - Côn pha trò
thêm - Rứa là ... là vui vẻ cả nghe!
Tuấn nài Côn cầm thêm kẹo nữa. Côn xua tay, lắc đầu chạy vào nhà.
Khiêm từ trong bếp bước ra, tay cầm cái chổi đót, trách yêu em:
- Côn giỏi ghê hề. Mẹ đi chợ, mẹ dặn anh, dặn em ở nhà làm chi, em nhớ không?
- Mẹ dặn học xong anh chẻ củi, nấu cơm, em quét nhà, quét sân rồi đi khiêng nước giếng thơi về đổ
đầy vại.
- Những việc ấy chưa làm xong em đã bỏ đi chơi?
- Em chưa làm, giờ em làm, mà anh!
Côn chạy đến với anh trai, đưa cho anh chiếc kẹo.
- Kẹo ai cho?
- Cậu Tuấn đó, anh ạ. Cậu ấy biếu cả gói em không dám nhận, em chỉ nhận đủ phần anh một cái, em
một cái, để cậu ấy vui lòng.
- Em biết xử sự rồi đó.
- Em đã biết "xử thế", nói theo lời cha thường dặn, chớ anh! Hai anh em cười vui vẻ. Bỗng nghe
tiếng chẻ củi đằng sau nhà bếp, Côn chưa kịp hỏi anh thì Khiêm nói:
- Quang đang chẻ hộ anh em mình.
- Anh và em chia nhau một cái, còn cái kẹo này đưa phần Quang, anh ạ.
Côn cầm chiếc kẹo chạy ra sau nhà đưa cho Hồ Quang, người học trò mà cha mẹ không có đất cắm
dùi, sống lênh đênh trong chiếc thuyền te trên các dòng sông.
*
Mặt trời chênh chếch hàng cây bên mái hiên tây. Gió hiu hiu thổi. Hương sen thoang thoảng mơ hồ!
Côn ra cửa Đông Ba đón mẹ chợ về. Côn ngạc nhiên gần như ngơ ngác nhìn những mâm cỗ đặt cúng
dọc hai bên đường; ở các ngã tư, ngã ba đường cỗ cúng lại càng nhiều. Rất nhiều mâm bỏng, nồi cháo
hoa, đĩa muối, đĩa gạo, có cả vàng giấy, vàng vó la liệt... Ai đi qua mâm cỗ cũng ghé nón, cúi đầu
tưởng vọng. Thỉnh thoảng có cán, xe ngựa, xe song loan của các ông hoàng, bà chúa, các quan Nam,
quan Tây đều phải xuống đi chân qua nơi đang nghi ngút khói hương.
Dưới các bóng cây hai bên đường, những tốp người quần áo rách mướp, gầy gò, lem luốc đứng lố
nhố, tay cầm rá rách, nồi đất, mắt chau háu nhìn vào cỗ cúng chờ đợi hương tàn để được cướp cỗ!...
Côn chưa gặp được một người quen nào để hỏi về cái tích gì mà có lệ cúng này. Từ ngày theo cha mẹ
vào kinh đô ở, hơn mười tháng, Côn chưa hề gặp cảnh cúng đường cúng sá lần nào. Côn tha thẩn ngoài
cửa Đông Ba. Không biết đích xác mẹ đi chợ nào. Côn chỉ nghe mẹ nói với cha: "Hôm nay ngày lẻ,
quanh đây không có chợ phiên chính, phiên xép ít người bán sợi. Tôi phải đi chợ xa mua sợi, mấy
ngày nghỉ dệt rồi...". Mắt Côn luôn luôn hướng về phía cầu Gia Hội. Chưa thấy mẹ về nhưng Côn
mừng reo lên khi nhìn thấy anh phó Tràng, một người hàng xóm sống độc thân tốt bụng:
- Ồ chú! Ồ chú! chú đã về!
- Cậu Côn! Cậu đi mô rứa?
- Cháu đi đón mẹ cháu, bữa ni chú về sớm! không có việc hả chú?
Anh phó Tràng kéo Côn sát vào người mình, dằn từng tiếng nặng chịch:
-"Mồng năm, mười bốn, hăm ba.- Đi chơi còn thiệt nữa là đi buôn". Câu đã nghe ai nói về ba cái
ngày phai kiêng trong một tháng ấy không?
- Thưa, cháu chưa nghe ai nói chú ạ.
- Các cụ truyền khẩu về tục lệ kiêng cữ, cậu ấm ạ. Có ông Trời không? Có Phật không? Có Chúa
không? Có Thánh không? Có Thần không?... Chưa biết, nhưng cứ... cứ hay tin cái đã, cậu ạ. Phải tin có
sự trừng phạt thiêng liêng thì con người càng thêm điều thiện, giảm điều ác, cậu ạ. Bữa ni là ngày hai
mươi ba tháng năm, tui đi mần thuê, nỏ có ai thuê. Đi không lại về không. Đó, cậu coi, tay thợ của tui
mà bữa ni đi mần thuê nỏ đắt!.
- Chú ơi, cháu thưa với chú một việc nhé.
- Ơ... ờ. Cậu cứ việc bảo ban tui, nỏ phải thưa gửi mần chi với anh phó mộc ni, cậu ơi!
- Cháu nói thật tình mà. Cháu xin chú đừng gọi cháu bằng cậu, xưng tôi với cháu. Chú gọi bằng cháu
xưng chú với cháu, với anh Khiêm của cháu nữa.
- Tr...ờ...i...đất...ơi. Cậu còn bé thơ, con một ông cử nhân, một ông thầy học nổi tiếng mà cậu đối xử,
ăn ở bình dân với mọi người hàng xóm, láng giềng.
Anh phó Tràng ngập ngừng giây lát:
- Cậu có lòng đại nhân quân tử với tui, sướng cái bụng tui lắm. Tui sông cô đơn, thèm người hiền.
Tui thèm người hiền, chứ ngợm thì có thiếu chi ở cái đời ni. Nhưng, để tui xin phép ông cử, bà cử cho
danh chính ngôn thuận thì cách xưng chú cháu với nhau mới đặng, cậu ạ.
- Khỏi phải nói với cha mẹ cháu, chú ạ. Cha mẹ cháu thường nói chú là chỗ thân tình nhất của nhà
cháu ở đây. Cha mẹ cháu không muốn chú gọi chúng cháu bằng cậu, không muốn gọi cha mẹ cháu là
ông bà.
- Rứa à... cháu! - anh phó Tràng bật ra tiếng "cháu" một cách hồn nhiên mà giọng nói vẫn còn rung
ngần ngài ngại!
- Đó! Chú gọi "cháu" nghe sướng hơn. Chú gọi "cậu" cháu phải nghe thôi chứ chẳng thích đâu, chú
ạ.
- Rồi. Việc nớ rứa là xong, nghe cháu. Chừ chú hỏi cháu đi ra đây có việc chi?
- Cháu đi đón mẹ cháu chợ về, chú ạ.
- Đi về cháu. Mẹ cháu đi chợ Mai mà.
- Ban sáng mẹ cháu biểu đi chợ chi... cháu, cháu nghe thoáng, quên mất, chỉ nhớ là có đi qua Gia
Hội, chú ạ.
- Chú gặp mẹ cháu lúc mới sớm, đi lên cửa Thượng Tứ nói đi chợ Mai. Cháu không tin chú à?
- Cháu... tin lắm...
Thấy Côn buồn buồn, anh phó Tràng an ủi:
- Chừ thì có khi mẹ cháu đã về ở nhà rồi, cháu ạ. Ta về cháu. À! Cháu vô quán ăn với chú một
miếng chi, ấm bụng đã.
Côn chớp chớp mắt nhìn anh phó Tràng:
- Chú đi cả ngày không có việc làm, lấy tiền đâu chú cháu ăn quà, hả chú?
- Đã đến nỗi chi mà lo cho nhọc cái bụng hả cháu? Lẽ mô chú mất việc một ngày mà đã cạn tiền
lưng, gạo bị? Chú mời cháu đi ăn là đã dòm ngó vô cái bị dự trữ của mình rồi.
Côn ngập ngừng, đầu hơi cúi xuống nhìn bàn chân anh phó Tràng to gần như cái bẹ cau, bước chắc
nịch. Côn níu chặt tay anh phó Tràng:
- Chú ơi!
- Cháu lại muốn thay đổi việc chú mời cháu ăn cơm hàng?
- Cháu mời chú cùng đi về nhà cháu ăn cơm với cha mẹ cháu, với anh em cháu. Lúc cháu ra đón mẹ
cháu, anh Khiêm cháu đang dọn cơm đợi cha mẹ về cùng ăn cho vui, chú ạ.
- Hề hề... - anh phó Tràng cười to, nói oang oang giữa đường cái - Cháu thảo ăn, tốt bụng lắm. Con
nòi của giống, ông cha nói nỏ có sai. Cha cháu nổi tiếng ngươi nhân cách, người hiền, giàu chữ, trọng
nhân nghĩa với cái biệt danh mộc mạc:"Ông cử Nghệ". Mẹ cháu một thục nữ đã ba con mà ra đường nỏ
ai coi là nạ dòng. Bà thảo hiền, thương người như thể thương thân. Có một miếng ăn ngon, bà cũng bớt
ra chia sớt với bà con xóm giềng. Ai đứt bữa, ai tối lửa tắt đèn, ba chìa tay giúp đỡ trong tình lá lành
đùm lá rách. - Anh vuốt tóc của Côn sắp búi được đụm củ hành. Giọng anh càng tha thiết - Các cháu
về sau sẽ được hưởng phước lộc của mẹ, của cha. Mẹ cháu chữ còn nhiều hơn một số bà phi trong
Nội. Chú vô Nội chữa cung điện, chữa cả giường, cả ghế của các bà phi, chú được ngửi hương trầm
mà cũng bị sặc mùi xú uế ở trỏng, cháu ạ... Anh phó Tràng nói một thôi dài nối theo một tiếng thở não
nuột. Anh hạ giọng:
- Chú nghe lời cháu về nhà cháu cùng ăn cơm. Cái vui của gia đình chắc làm ấm đời chú một phần.
Nhưng...
- Sao lại nhưng nữa, hả chú?
- Nhưng chú phải ghé tiệm mua một món chi cho thêm tươi tươi bữa cơm gia đình, cháu ạ.
- Không. Cháu không để chú mua một món chi khác nữa đâu. Ở nhà cháu còn có cá kho, mắm chua,
lại còn nồi cá tươi nấu lát nữa.
Côn hỏi dồn luôn:
- Chú ơi!
- Có chuyện chi hỏi chú nữa?
- Sao lại có cái tục lệ đem mâm cỗ ra đường cúng, hở chú?
Anh phó Tràng nhìn sang hai bên đường trầm ngâm, bước chậm lai. Giọng nói của anh trầm hẳn
xuống:
- Bữa ni... ngày... hăm...ba... tháng... năm... Ngày Quốc hận, cháu... ơi! - Anh cầm gọn bàn tay Côn
nhỏ xíu mềm như chiếc lá non - Cả Kinh thành quyện mùi hương khói!
2.
Tiếng súng Thành chao đưa, màn đêm buông gấp gáp.
Cửa Thanh khép kín.
Thành Nội, tấm áo giáp của Đại Nội chìm vào đêm tối.
Khiêm đang lom khom trên phản làm ngựa cho Côn cưỡi, nghe tiếng súng Thành, hai anh em ngừng
cuộc chơi. Khiêm nói:
- Học thuộc bài sớm để rồi xin cha kể cho nghe tích ngày Quốc hận, em ạ.
Côn giao hẹn:
- Anh hoặc em học thuộc bài trước, ta cùng đợi nhau nghe cha kể, anh nhá.
- Anh chưa lần nào học thuộc bài trước em cả.
- Thì em đợi anh. Khuya mấy em cũng đợi mà.
- Đợi anh hay em ngủ lăn ra giường, đánh thức mỏi cả miệng.
- Em hẹn với anh nhá, hễ thấy em ngủ say gọi không dậy, anh cứ véo đau vô đùi em, em tỉnh ngay
anh ạ.
- Ê,...ơi! Vé...o thật đau vô đùi em! Nghe em dặn ngon ơ. Nhưng anh con nhớ dạo nọ em học xong,
lăn ra ngủ, chưa xếp sách lên kệ, chưa rửa mặt, rửa tay chân. Mẹ không cho anh làm thay, bắt gọi em
dậy làm xong phần việc mới được ngủ. Anh lay mãi em vẫn không dậy, ừ ừ mấy tiếng rồi lại ngủ khì.
Anh cù vô nách em, cù nhẹ thôi. Vậy mà em cáu lại anh, tuôn ra một tràng chữ trách anh:"Đệ niên
thượng trĩ. Đệ hữu bất tri giả, huynh tất tường vị. Giáo đệ, huynh khởi vong chi hồ?" (Tuổi em còn nhỏ,
có điều gì chưa biết, anh dạy em, sao anh lại quên điều ấy?). Anh liền bị cha quở trách về tội không
khuyên bảo em, lại trêu chọc em.
- Lần ấy em thưa lại ngay với cha, lỗi ở em và em đã xin lỗi anh cơ mà.
Dọn dẹp xong việc bếp núc, chị cử Sắc ngồi vào khung cửi dệt. Tay chị đưa thoi thoăn thoắt. Chị
nhắc hai con:
- Cha các con sắp về đó. Các con học bài đi. Chuyện chi mà ồn lên rứa?
- Chúng con đang ôn bài, mẹ ạ - Côn nháy mắt với anh.
- Mẹ đã vào khung dệt rồi. Anh em mình học bài thôi.
Hai anh em học chung một đèn. Côn lấy que tăm khơi hai bấc thành hai ngọn đèn trong đĩa dầu lạc.
Khiêm hai tay bưng cằm tựa lên bàn, học nhẩm từng chữ. Côn thì viết ra giấy nháp, xướng lên nho nhỏ
để nghe từng chữ: Ái quốc, nghĩa là yêu nước. Quốc dĩ dân lập, nghĩa là, nước do dân lập nên. Dân dĩ
quốc tồn, nghĩa là dân còn thì nước còn. Vô dân tắc quốc hà do thành, nghĩa là không có dân sao thành
nước được? Vô quốc tắc dân hà sở tý nghĩa là, không có nước thì dân lấy đâu ra sự che chở? Cố quốc
dân tất ái quốc, nghĩa là, dân trong một nước thì phải yêu nước...
Anh cử Sắc vào Quốc sử quán thăm một người bạn là ông Phó bảng Cao Xuân Tiếu và mượn ít
sách. Anh đi từ sau bữa cơm chiều. Lúc về đến đầu sân, anh nhìn vào nhà, lòng bồi hồi, bởi lâu nay
anh chăm viêc sách đèn, lo việc thi cử và dạy học cho con mình, cho con em bạn bè nhờ, ít khi lưu ý
về cuộc sống gia đình. Anh quá yên tâm vì đã có Hoàng Thị Loan, người vợ hiền đảm đang, gánh vác
mọi việc lớn, việc nhỏ trong gia đình. Tôi nay, đứng ngoài sân, anh nhận rõ niềm vui hạnh phúc của
gia đình mình mà tưởng chừng chuyện trong sách, mẹ dệt cửi thâu canh, con đèn sách chuyên cần.
Anh bước vào nhà, giọng ấm áp:
- Mình nghỉ tay một tý chứ? Làm quần quật cả ngày, tận khuya vẫn không rời con thoi.
- Nhà về muộn rứa... Tôi cố dệt cho xong tấm đũi, bà hàng tấm bên Dinh hẹn lấy cho phiên chợ này.
Khiêm, Côn thấy cha về, xếp sách, đặt vào kệ gọn gàng. Khiêm nháy nháy mắt với em:
- Em nhắc lại với cha, xin cha kể chuyện ngày Quốc hận, nhé.
- Anh thưa với cha hơn, chứ anh.
- Em...
Thấy cha vào, Khiêm thôi không nói với em nữa. Cả hai anh em ríu rít chào hỏi cha. Anh Sắc ân
cần:
- Các con đã học thuộc bài chưa?
- Dạ... đã, chúng con... chúng con thuộc cả rồi ạ.
- Khiêm thuộc đọc thật làu chứ?
- Thưa cha, bài ni con thuộc kỹ hơn mọi bài trước đây ạ.
- Vậy thì con tấn tới lên rồi. Là anh con phải cố gắng học giỏi, làm gương sáng cho em.
- Thưa cha, em Côn sáng dạ. Bà ngoại, mẹ đều nhủ: Bé Côn có cái bụng sáng hơn đèn. Con khó học
kịp em Côn, cha ạ.
Anh Sắc cười hiền từ:
- Con tự xếp mình đứng đằng sau em về đường đèn sách à?
-...
- Về miếng ăn, anh nhường em, em nhường anh. Đó là đức tính đáng quý. Nhưng việc học phải cùng
nhau đua tranh, cùng nhau tấn tới. Bẩm sinh thông minh, sáng láng mới chỉ là cái mầm, chưa phải cây
ra hoa, kết trái. Cha đã từng nói với các con: Ngọc bất trác bất thành khí (ngọc không mài dũa không
thành của quý). Phải lập chí từ lúc tập cầm bút, tập cầm cày, tập cầm cưa, cầm đục, các con ạ.
Anh cử Sắc không gọi Khiêm đọc bài mà gọi Côn:
- Côn đọc bài: Ái quốc.
Côn đứng gần án thư cha, hai tay vòng trước ngực, mắt nhìn vào ngọn đèn trên bàn, Côn đọc một
mạch rành rọt từ câu mở đầu:"Quốc dĩ dân lập"... cho đến câu chót của bài học thuộc lòng.
Anh hỏi kiểm tra ngay:
- Con giải nghĩa câu:"Quốc giả, tái dân chi châu dã" đến "kỳ quốc tiểu hữu năng hãnh tồn giả".
Côn thấm lưỡi qua môi, giảng giải:
- Tổ quốc là con thuyền, dân ở trên con thuyền ấy. Điều lợi, điều hại của Tổ quốc chính là niềm vui,
nỗi lo của dân. Nếu như người nào cũng nghĩ đến lợi riêng mình, không lấy việc nước làm trọng, hoặc
còn ra sức phá hoại thì còn gì là nước, là dân!.
- Con về chỗ.
Anh cử Sắc lại kiểm tra Khiêm.
- Khiêm giải nghĩa câu: Phản Tổ Quốc, do châu nhân tự huyệt kỳ châu dã.
Khiêm nhìn lên mái nhà, nói:
- Kẻ phản bội Tổ Quốc khác chi người trong con thuyền lại tự đục thủng thuyền.
- Con về chỗ
Phút yên lặng. Tiếng cửi dệt của chị cử Sắc từ trong buồng vọng ra đều đều.
Anh Sắc nhìn hai con đầy tin tưởng:
- Các con ra đời vào thời buổi đất nước nhiễu nhương của thế kỷ này. Nhưng các con là người gánh
trọng trách của thế kỷ sau. Chỉ còn ít năm nữa là sang thế kỷ hai mươi rồi. Cha mẹ sẽ gắng hết sức lo
cho các con học. Có học mới hiểu biết, có hiểu biết mới có vốn để làm nên...
Anh đứng dậy, cho phép hai con:
- Hai anh em đi rửa mặt, rửa tay chân. Bài học tối nay cả hai anh em đều đang khen.
Côn nhắc luôn với cha:
- Thưa cha, lúc chiều cha dặn học bài tốt thì cha sẽ kể cho nghe chuyện ngày Quốc hận, ạ.
- Cha vẫn nhớ.
*
Chị cử Sắc khe khẽ đặt mình xuống giường. Bóng trăng nghiêng như giải lụa vàng giăng ngang cửa
sổ. Qua ánh trăng trong, chị nhìn lờ mờ những cành cây nhún nhảy, bóng vờn trên sân vắng lặng. Sự
vắng lặng đêm hè chốn kinh đô đã khơi gợi niềm nhớ quê... Hình ảnh người mẹ già, cụ Hoàng Xuân
Đường, hình ảnh của con gái đầu lòng Nguyễn Thị Thanh, cô em gái Hoàng Thị An cứ lởn vởn trước
vừng trán chị, rồi xa dần, lẫn vào tiếng chồng đang kể chuyện cho hai con ở gian bên mà lại nhập vào
tâm trí chị:
-... Tự Đức, một ông vua thuộc hàng nhiều chữ nhất của triều Nguyễn. Nhưng ông đã tự thú trong
văn bia của ông ở Khiêm Lăng về tội để mất nước, các con ạ. Chính ông, dưới thời ông trị vì mà
những ba lần làm văn bản bán nước. Lần đầu ký văn bản cắt ba tỉnh miền đông Nam Kỳ cho Tây
dương vào năm Nhâm Tuất (1862). Năm Giáp Tuất (1874) lại làm giấy bán toàn bộ Nam Kỳ. Năm
Quí Mùi (1883) làm giấy bán cả nước ta cho người Tây dương, năm ấy đức vua băng hà (chết). Năm
Giáp Thân (1884) triều đình làm giấy bán tiếp, bán đoạn nước ta cho Tây dương gọi là hiệp ước Giáp
Thân.
- Mẹ sinh chị Thanh năm đó, cha nhể? - Côn hỏi.
Khiêm rầy em:
- Cha đang nói chuyện hệ trọng, em lại đá gà cái chuyện mẹ sinh, nỏ ăn nhập chi hết cả.
- Ơ kìa, anh tưởng chỉ có việc vua Tự Đức chết là hệ trọng, còn việc mẹ ta sinh con không hệ trọng
à?
- Em nói việc mẹ ta sinh thì hệ trọng cái nỗi chi nào?
Anh cử Sắc lặng thinh cho hai con tranh cãi để biết khiếu lập ngôn của con. Chị cử Sắc nằm trong
giường thì bấm bụng cười thầm. Côn nằm cạnh cha, níu lấy cánh tay cha, hỏi gặng:
- Anh Khiêm biểu việc mẹ sinh không có chi là hệ trọng, vua chết mới là việc hệ trọng. Riêng con
thì vua chết là hết phận sự, chỉ còn lại tai tiếng hay danh thơm. Còn mẹ sinh ra các con để có thêm
người, lớn lên lo việc nước, hay đi dạy học cho nhiều người biết chữ, hay cày ruộng có thêm nhiều
thóc gạo, ai cũng được ăn no. Con nghĩ vậy, có phải không thưa cha?
Anh cử Sắc chưa trả lời cho Côn mà hỏi Khiêm:
- Em nó giãi bày lý lẽ vậy, con là anh, thấy sao?
- Dạ... dạ... thưa cha, em con nói rõ ra thì nghe cũng ... cũng phải, cha ạ. Nhưng mà...
- Nhưng mà, gì nữa - Anh cử Sắc hỏi Khiêm.
- Nhưng mà em Côn nó khôn lắm. Nó nói cách chi nghe đều xuôi cả.
- Anh Khiêm khen em như rứa, em buồn lắm. Em có khi nào nói việc ngược thành xuôi, xuôi thành
ngược đâu?
- Em Côn của con dầu có khôn đến mấy, vẫn là em của con. Con là anh, nói với em, phải nói lời
chính ngôn, con ạ.
- Dạ, con đã rõ, thưa cha. Côn sốt ruột:
- Cha ơi, cha kể tiếp nước ta sau khi bị người Tây dương đô hộ, vua Tự Đức chết, rồi sao nữa, cha?
- Khuya rồi con ạ. Các con sang giường ngủ. Hôm sau cha lại kể cho các con nghe.
*
Cơn mưa mùa hạ vừa dứt, trời lại đầy sao. Trăng cuối tháng chưa mọc. Khiêm, Côn chép xong bài
sớm. Chị cử Sắc vẫn một mình một đèn ngồi trong buồng mắc sợi vào go, chuẩn bị dệt tấm vải mới.
Anh cử Sắc xếp sách lại, rời khỏi án thư bước tới phản, nơi hai con đang ngồi đợi nghe cha kể tiếp
chuyện ngày Quốc hận.
- Côn lấy cho cha cái gối xếp để cha tựa! Côn sang giường cha bê đến bộ gối xếp ba tầng, Khiêm
biết tính cha, lúc nói chuyện với bạn, lúc kể chuyện cho con nghe, lúc ngồi viết sách, thơ, phú thường
có chén rượu nhấp một tí thấm giọng. Khiêm lặng lẽ đến bàn thờ lấy nậm rượu, một chén bạch định, rót
đầy rượu, đặt bên cạnh cha.
- Các con ngồi vào. Côn nũng cha:
- Con được nằm nghe chuyện thì nhớ hơn là ngồi, cha ạ.
- Ừ, thì con nằm bên cha đây.
- Con nằm bên cha mà được gối đầu lên đùi cha thì nghe chuyện càng thích thú, chóng thuộc
chuyện...
- Vẽ chuyện - Khiêm giễu em - Đầu em nặng làm mỏi đùi cha. Ích chi việc gối đùi?
- Cũng được, em nó thích vậy, cha chiều. Côn nằm gối đầu lên đùi cha. Khiêm ngồi tựa lưng vào
vách. Hai anh em mắt đầy mơ màng lắng cả tâm hồn ngây thơ vào dòng suối chuyện của cha:
- Vua Tự Đức không có con, ngài chọn một số cháu làm con nuôi, như Ưng Chân, Ưng Đăng, Ưng
Kỷ. Trước ngày đức vua băng hà, tức ngày 14 tháng 6 năm Quí Mùi (1883) đức vua triệu các đại thần
viện Cơ mật là Tôn Thất Thuyết, Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường vào chầu. Tự Đức ký và trao
Di chiếu truyền ngôi cho Ưng Chân, người con nuôi mà Tự Đức yêu mến nhất. Ưng Chân vốn là con
thứ hai của Hồng Y. Ông Hồng Y là em trai thứ tư của Tự Đức, được Tự Đức phong làm Kiến Thụy
công. Trước đó, năm Kỷ Tỵ (1869) vua công bố dạo dụ chọn Ưng Chân làm hoàng tử kế vị và phong
làm Thụy quốc công Dục Đức. Năm ấy, Dục Đức tròn mười tám tuổi. Dục Đức là phụ hoàng của Đức
vua Thành Thái ngày nay đó, các con ạ.
- Sao không gọi là Thái Thượng hoàng, thưa cha? - Khiêm hỏi.
- Vua cha truyền ngôi cho con thì lên chức Thái Thượng hoàng. Ông vua nào không được truyền
ngôi cho con lúc còn sống thì gọi là phụ hoàng, nghĩa là cha của vua. Tiếc thay vua Dục Đức ở ngôi
chỉ có ba ngày, đây là ông vua ngắn đời nhất của lịch sử nước ta. Bởi lẽ, vua Tự Đức biết một số tính
tình không hay của thái tử Dục Đức, và ghi rõ vào di chiếu truyền ngôi để Dục Đức biết mà sửa, các
quan trọng thần biết mà giúp vua ngăn ngừa. Nhưng, Dục Đức e ngại đoạn văn đó trong Di chiếu, ông
mật bàn với các phụ chánh đại thần Tôn Thất Thuyết, Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường sẽ không
đọc đoạn văn nói lên nhược điểm của mình trước triều đình trong lễ đăng quang. Bề ngoại các phụ
chánh đều ưng thuận, bên trong lập mưu hạ bệ Dục Đức bằng cái cớ này để đưa em trai Tự Đức là
Hồng Dật lên ngôi. Quả nhiên lúc vua Dục Đức cho đọc di chiếu của vua Tự Đức đã không cho đọc
đoan văn nhận xét một số tính tình không hay về ông. Phụ chánh đại thần Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn
Tường... đứng lên phát giác. Phụ chánh đại thần Tôn Thất Thuyết hạ lênh bắt ngay vua Dục Đức đưa đi
giam tạm ở viện Thái y, sau chuyển sang ngục Thừa Thiên và ông bị chết đói trong nhà ngục ngày
mồng 6 tháng 9 năm Giáp Thân (24/10/1884). Vợ con ông cũng đều bị bắt giam. Ngay tại lễ thiết triều,
quan Ngự sử Phan Đình Phùng đứng lên phản đối việc bắt vua Dục Đức hạ ngục. Ông cho rằng: Vua
Dục Đức dấu triều đình về những điều viết xấu về mình trong Di chiêu chưa đáng tội phải hạ ngục.
Vua có làm điều gì sai thì giúp vua sửa mình. Việc bé chớ xé thành to mà gây ra thù oán, hiểm họa.
Vận nước đang nghiêng ngả, giặc Tây dương đã nuốt gần hết giang sơn, kinh đô đang bị giặc uy hiếp
mà trong triều, vua tôi không thuận thì khác nào tự mở cửa Thành mời giặc vô ngự trị! Các con ơi!
tiếng nói của quan Ngự sử là tiếng nói can gián đừng làm điều có hại đến việc lớn mà ông cũng bị bắt
ngay buổi thiết triều.
Ba cha con anh cử Sắc chìm giữa im lặng, chị cử Sắc chăng sợi lên khung cửi ở trong buồng vẫn
chăm chú nghe tiếng chồng lúc to, lúc nhỏ, bổng trầm và thấm đau từng lời.
- Quan Phan Đình Phùng đã bị bắt ngày ấy sao hiện đang cầm quân đánh Tây ở quê ta, hả cha? Côn hỏi.
- Ông bị bắt ...
 






Các ý kiến mới nhất